Connect with us

Vận Động Viên

Top Vận động viên dành nhiều huy chương nhất tại Olympic

Published

on

Dưới đây là danh sách tất cả những vận động viên đã từng giành ít nhất 4 huy chương vàng tại ở những kỳ Olympic được Cpslowheelmen.org mời bạn cùng xem với chúng tôi nhé.

Tên Vận động viên Quốc gia Môn tham dự Olympic năm HCV Vàng HCV Bạc HCV Đồng Tổng Cộng
Michael Phelps Hoa Kỳ Bơi lội 2004–2016 23 3 2 28
Larissa Latynina Liên Xô Thể dục nghệ thuật 1956–1964 9 5 4 18
Paavo Nurmi Phần Lan Điền kinh 1920–1928 9 3 0 12
Mark Spitz Hoa Kỳ Bơi lội 1968–1972 9 1 1 11
Carl Lewis Hoa Kỳ Điền kinh 1984–1996 9 1 0 10
Bjørn Dæhlie Na Uy Trượt tuyết 1992–1998 8 4 0 12
Birgit Fischer Đức Đua thuyền 1980–2004 8 4 0 12
Sawao Kato Nhật Bản Thể dục nghệ thuật 1968–1976 8 3 1 12
Jenny Thompson Hoa Kỳ Bơi lội 1992–2004 8 3 1 12
Matt Biondi Hoa Kỳ Bơi lội 1984–1992 8 2 1 11
Ray Ewry Hoa Kỳ Điền kinh 1900–1908 8 0 0 8
Nikolay Andrianov Liên Xô Thể dục dụng cụ 1972–1980 7 5 3 15
Boris Shakhlin Liên Xô Thể dục dụng cụ 1956–1964 7 4 2 13
Věra Čáslavská Tiệp Khắc Thể dục dụng cụ 1960–1968 7 4 0 11
Viktor Chukarin Liên Xô Thể dục dụng cụ 1952–1956 7 3 1 11
Aladár Gerevich Hungary Đấu kiếm 1932–1960 7 1 2 10
Edoardo Mangiarotti Ý Đấu kiếm 1936–1960 6 5 2 13
Lyubov Yegorova Nga Trượt tuyết 1992–1994 6 3 0 9
Hubert Van Innis Bỉ Bắn cung 1900–1920 6 3 0 9
Akinori Nakayama Nhật Bản Thể dục dụng cụ 1968–1972 6 2 2 10
Valentina Vezzali Ý Đấu kiếm 1996–2012 6 1 2 9
Gert Fredriksson Thụy Điển Canoeing 1948–1960 6 1 1 8
Vitaly Scherbo Belarus Thể dục dụng cụ 1992–1996 6 0 4 10
Reiner Klimke Đức Điều khiển ngựa 1964–1988 6 0 2 8
Pál Kovács Hungary Đấu kiếm 1936–1960 6 0 1 7
Rudolf Kárpáti Hungary Đấu kiếm 1948–1960 6 0 0 6
Nedo Nadi Ý Đấu kiếm 1912–1920 6 0 0 6
Kristin Otto Đông Đức Bơi lội 1988 6 0 0 6
Lidia Skoblikova Liên Xô Trượt băng tốc độ 1960–1964 6 0 0 6
Amy Van Dyken Hoa Kỳ Bơi lội 1996–2000 6 0 0 6
Takashi Ono Nhật Bản Thể dục dụng cụ 1952–1964 5 4 4 13
Carl Osburn Hoa Kỳ Bắn súng 1912–1924 5 4 2 11
Ryan Lochte. Hoa Kỳ Bơi lội 2004–2012 5 3 3 11
Gary Hall, Jr. Hoa Kỳ Bơi lội 1996–2004 5 3 2 10
Ágnes Keleti Hungary Thể dục dụng cụ 1952–1956 5 3 2 10
Nadia Comăneci România Thể dục dụng cụ 1976–1980 5 3 1 9
Ole Einar Bjørndalen Na Uy Hai môn phối hợp 1998–2006 5 3 1 9
Ian Thorpe Úc Bơi lội 2000–2004 5 3 1 9
Ville Ritola Phần Lan Điền kinh 1924–1928 5 3 0 8
Polina Astakhova Liên Xô Thể dục dụng cụ 1956–1964 5 2 3 10
Claudia Pechstein Đức Trượt băng tốc độ 1992–2006 5 2 2 9
Elisabeta Lipă Romania Đua thuyền 1984–2000 5 2 1 8
Yukio Endo Nhật Bản Thể dục dụng cụ 1960–1968 5 2 0 7
Mitsuo Tsukahara Nhật Bản Thể dục dụng cụ 1968–1976 5 1 3 9
Krisztina Egerszegi Hungary Bơi lội 1988–1996 5 1 1 7
Larisa Lazutina Nga Trượt tuyết 1992–1998 5 1 1 7
Willis A. Lee Hoa Kỳ Bắn súng 1920 5 1 1 7
Clas Thunberg Phần Lan Trượt băng tốc độ 1924–1928 5 1 1 7
Hans Günter Winkler Đức Điều khiển ngựa 1956–1976 5 1 1 7
Thomas Alsgaard Na Uy Trượt tuyết 1994–2002 5 1 0 6
Anton Heida Hoa Kỳ Thể dục dụng cụ 1904 5 1 0 6
Nellie Kim Liên Xô Thể dục dụng cụ 1976–1980 5 1 0 6
Ole Lilloe-Olsen Na Uy Bắn súng 1920–1924 5 1 0 6
Don Schollander Hoa Kỳ Bơi lội 1964–1968 5 1 0 6
Bonnie Blair Hoa Kỳ Trượt băng tốc độ 1988–1994 5 0 1 6
Alfred Lane Hoa Kỳ Bắn súng 1912–1920 5 0 1 6
Steve Redgrave Anh Quốc Đua thuyền 1984–2000 5 0 1 6
Johnny Weissmuller Hoa Kỳ Bơi lội 1924–1928 5 0 1 6
Chris Hoy Anh Quốc Xe đạp 2000–2012 5 0 1 6
Morris Fisher Hoa Kỳ Bắn súng 1920–1924 5 0 0 5
Eric Heiden Hoa Kỳ Trượt băng tốc độ 1980 5 0 0 5
Raisa Smetanina Liên Xô Trượt tuyết 1976–1992 4 5 1 10
Vilhelm Carlberg Thụy Điển Bắn súng 1908–1924 4 4 0 8
Dawn Fraser Úc Bơi lội 1956–1964 4 4 0 8
Kornelia Ender Đông Đức Bơi lội 1972–1976 4 4 0 8
Sixten Jernberg Thụy Điển Trượt tuyết 1956–1964 4 3 2 9
Ludmilla Tourischeva Liên Xô Thể dục dụng cụ 1968–1976 4 3 2 9
Ricco Gross Đức Hai môn phối hợp 1992–2006 4 3 1 8
Georges Miez Thụy Sĩ Thể dục dụng cụ 1924–1936 4 3 1 8
Otto Olsen Na Uy Bắn súng 1920–1924 4 3 1 8
Ivan Patzaichin România Đua thuyền 1968–1984 4 3 0 7
Alexei Nemov Nga Thể dục dụng cụ 1996–2000 4 2 6 12
Kjetil André Aamodt Na Uy Trượt tuyết 1992–2006 4 2 2 8
Inge de Bruijn Hà Lan Bơi lội 2000–2004 4 2 2 8
Roland Matthes Đông Đức Bơi lội 1968–1976 4 2 2 8
Sven Fischer Đức Hai môn phối hợp 1994–2006 4 2 2 8
Jason Lezak Hoa Kỳ Bơi lội 2000–2012 4 2 2 8
Galina Kulakova Liên Xô Trượt tuyết 1972–1980 4 2 2 8
Ivar Ballangrud Na Uy Trượt băng tốc độ 1928–1936 4 2 1 7
Einar Liberg Na Uy Bắn súng 1908–1924 4 2 1 7
Christian d’Oriola Pháp Đấu kiếm 1948–1956 4 2 0 6
Olga Korbut Liên Xô Thể dục dụng cụ 1972–1976 4 2 0 6
Janica Kostelić Croatia Trượt tuyết 2002–2006 4 2 0 6
Isabell Werth Đức Điều khiển ngựa 1992–2000 4 2 0 6
Charles Daniels Hoa Kỳ Bơi lội 1904–1908 4 1 2 7
Lloyd Spooner Hoa Kỳ Bắn súng 1920 4 1 2 7
Giovanna Trillini Ý Đấu kiếm 1992–2004 4 1 2 7
Libby Trickett Úc Bơi lội 2004–2012 4 1 2 7
Bradley Wiggins Anh Quốc Xe đạp 2000–2012 4 1 2 7
Kim Soo-Nyung Hàn Quốc Bắn cung 1988–2000 4 1 1 6
Murray Rose Úc Bơi lội 1956–1960 4 1 1 6
Elena Novikova-Belova Liên Xô Đấu kiếm 1968–1976 4 1 1 6
Viktor Sidyak Liên Xô Đấu kiếm 1968–1980 4 1 1 6
Gunde Svan Thụy Điển Trượt tuyết 1984–1988 4 1 1 6
Leontien van Moorsel Hà Lan Đua xe đạp 2000–2004 4 1 1 6
Evelyn Ashford Hoa Kỳ Điền kinh 1984–1992 4 1 0 5
Janet Evans Hoa Kỳ Bơi lội 1988–1992 4 1 0 5
Ian Ferguson New Zealand Đua thuyền 1984–1988 4 1 0 5
Ramón Fonst Cuba Đấu kiếm 1900–1904 4 1 0 5
Phục Minh Hà Trung Quốc Lặn 1992–2000 4 1 0 5
Yevgeny Grishin Liên Xô Trượt băng tốc độ 1956–1964 4 1 0 5
Doina Ignat România Đua thuyền 1992–2004 4 1 0 5
Yana Klochkova Ukraina Bơi lội 2000–2004 4 1 0 5
Hannes Kolehmainen Phần Lan Điền kinh 1912–1920 4 1 0 5
Greg Louganis Hoa Kỳ Lặn 1976–1988 4 1 0 5
John Naber Hoa Kỳ Bơi lội 1976 4 1 0 5
Matti Nykänen Phần Lan Ski jumping 1984–1988 4 1 0 5
Charles Pahud de Mortanges Hà Lan Điều khiển ngựa 1924–1936 4 1 0 5
Alexander Popov Nga Bơi lội 1992–2000 4 1 0 5
Mel Sheppard Hoa Kỳ Điền kinh 1908–1912 4 1 0 5
Alexander Tikhonov Liên Xô Hai môn phối hợp 1968–1980 4 1 0 5
Ecaterina Szabo România Thể dục dụng cụ 1984 4 1 0 5
Emil Zátopek Tiệp Khắc Điền kinh 1948–1952 4 1 0 5
Nikolay Zimyatov Liên Xô Trượt tuyết 1980–1984 4 1 0 5
Johann Olav Koss Na Uy Trượt băng tốc độ 1992–1994 4 1 0 5
Dara Torres Hoa Kỳ Bơi lội 1984–2000 4 0 4 8
Chun Lee-Kyung Hàn Quốc Trượt băng tốc độ 1994–1998 4 0 1 5
Teresa Edwards Hoa Kỳ Bóng rổ 1984–2000 4 0 1 5
Marcus Hurley Hoa Kỳ Đua xe đạp 1904 4 0 1 5
Jon Olsen Hoa Kỳ Bơi lội 1992–1996 4 0 1 5
Stanislav Pozdniakov Nga Đấu kiếm 1992–2004 4 0 1 5
Giorgio Zampori Ý Thể dục dụng cụ 1912–1924 4 0 1 5
Fanny Blankers-Koen Hà Lan Điền kinh 1948 4 0 0 4
Kathrin Boron Đức Đua thuyền 1992–2004 4 0 0 4
Betty Cuthbert Úc Điền kinh 1956–1964 4 0 0 4
Georgeta Damian România Đua thuyền 2000–2004 4 0 0 4
Tamas Darnyi Hungary Bơi lội 1988–1992 4 0 0 4
Harrison Dillard Hoa Kỳ Điền kinh 1948–1952 4 0 0 4
Đặng Á Bình Trung Quốc Bóng bàn 1992–1996 4 0 0 4
Paul Bert Elvstrøm Đan Mạch Đua thuyền 1948–1960 4 0 0 4
Jenő Fuchs Hungary Đấu kiếm 1908–1912 4 0 0 4
Michael Johnson Hoa Kỳ Điền kinh 1992–2000 4 0 0 4
Robert Korzeniowski Ba Lan Đi bộ 1996–2004 4 0 0 4
Alvin Kraenzlein Hoa Kỳ Điền kinh 1900 4 0 0 4
Viktor Krovopuskov Liên Xô Đấu kiếm 1976–1980 4 0 0 4
Pat McCormick Hoa Kỳ Lặn 1952–1956 4 0 0 4
Al Oerter Hoa Kỳ Điền kinh 1956–1968 4 0 0 4
Jesse Owens Hoa Kỳ Điền kinh 1936 4 0 0 4
Matthew Pinsent Anh Quốc Đua thuyền 1992–2004 4 0 0 4
Paul Radmilovic Anh Quốc Bơi lội 1908–1920 4 0 0 4
Henri Saint Cyr Thụy Điển Điều khiển ngựa 1952–1956 4 0 0 4
Vladimir Salnikov Liên Xô Bơi lội 1980–1988 4 0 0 4
Carl Schuhmann Đức Thể dục dụng cụ 1896 4 0 0 4
Nicole Uphoff Đức Điều khiển ngựa 1988–1992 4 0 0 4
Lasse Virén Phần Lan Điền kinh 1972–1976 4 0 0 4
Thomas Wassberg Thụy Điển Trượt tuyết 1980–1988 4 0 0 4
Bärbel Wöckel Đông Đức Điền kinh 1976–1980 4 0 0 4
Missy Franklinl Hoa Kỳ Bơi lội 2012 4 0 0 4
Dana Vollmer Hoa Kỳ Bơi lội 2004–2012 4 0 0 4
Chu Khải Trung Quốc Thể dục dụng cụ 2008–2012 4 0 0 4

Theo “Top Vận động viên dành nhiều huy chương nhất tại Olympic” của Cpslowheelmen.org

Top Vận động viên dành nhiều huy chương nhất tại Olympic
Đánh giá bài viết
Chia sẻ bài viết hay
Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Vận Động Viên

Tiểu sử thủ môn tài năng Bùi Tiến Dũng

Published

on

Chàng thủ môn ĐTVN với đôi tay tài năng và một ngoại hình nhiều người mơ ước đang được rất nhiều quan tâm. Cùng lướt qua tiểu sử Bùi Tiến Dũng nhé.

Tiểu sử Bùi Tiến Dũng – thăng trầm theo trái bóng

Anh sinh tại xã Phúc Thịnh, huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa. Trong một gia đình làm nông, ngày 28.02.1997, chàng Dũng chào đời. Là người dân tộc Mường, tuổi thơ anh sớm gắn liền với quả bóng tại câu lạc bộ địa phương.

Em trai của anh là Bùi Tiến Dụng, cùng thi đấu với anh trong màu áo đội tuyển Việt Nam hiện nay. Cùng học, cùng chơi và cùng đội bóng tuyển quốc gia. Hai anh em có những điểm chung khiến nhiều người bất ngờ.

Trước khi được gọi lên tuyển, anh đã là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam. Hiện anh đang thi đấu cho câu lạc bộ FLC Thanh Hóa tại V.League 1.

Tại giải vô địch U20 FIFA World Cup 2017, anh đã có 3 lần được bắt chính cho đội tuyển U20 Việt Nam. Từ đây, nhiều huấn luyện viên bắt đầu nhìn nhận thực lực thật sự của anh.

Thần tượng của chàng trai đất Thanh Hóa hông ai khác ngoài Petr Cech. Ở tuổi 20, anh luôn coi hình mẫu để phấn đấu là thủ thành Arsenal.

Đặc biệt ở những tình huống bắt phạt đền của thủ môn người Cộng hòa Séc. Anh luôn quan tâm theo dõi và học hỏi.

Nhiều người dành cho anh sự tin tưởng sẽ cùng tuyển Việt Nam bay cao và bay xa nữa.

Thế nhưng…

Ít ai ngờ, anh đã từng có thời điểm suýt từ bỏ giấc mơ trở thành cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp.

Đã có thời gian anh làm công việc phụ hồ để giúp đỡ gia đình khi đội bóng trẻ anh tham gia bị giải thể. Thời gian này là năm 2012.

Trong hoàn cảnh đó, anh cũng không từ bỏ giấc mơ. Thời gian sau, anh tham gia lò đào tạo bóng đá trẻ FLC Thanh Hoá và dần khẳng định mình.

bùi tiến dũng theo thời gian

Giấc mơ trở thành hiện thực

Cơ hội lên tuyển quốc gia của Dũng là thời gian năm 2016. Tại vòng chung kết U-19 châu Á tháng 10 năm 2016, anh được triệu tập và trở thành thủ môn chính của đội U-19 Việt Nam. Anh góp phần đưa đội tuyển trẻ Việt Nam tham dự lần đầu U-20 thế giới năm 2017.

Tại giải này, anh được giao bắt chính cả 3 trận đấu của U-20 Việt Nam. Nhưng tiếc là đội tuyển không lọt được vào vòng bảng. Tiến Dũng lại phải chờ cơ hội khác để tỏa sáng.

Và cơ hội ấy đã đến với anh trong năm 2018. Tại giải vô địch U-23 Châu Á, anh sát cánh cùng đồng đội đi đến trận chung kết. Anh được giao nhiệm vụ bắt chính toàn bộ các trận của Việt Nam đá tại giải này.

Bóng đá là cả một bầu nhiệt huyết đam mê. Dũng có một người em trai là Bùi Tiến Dụng. Cũng cùng sở thích đá bóng, và lại còn chung đội tuyển nữa.

Cùng đam mê thể thao, sở thích đời thường cũng không khác nhau nhiều. Hai anh em khá thân thiết và cùng chia sẻ khoảnh khắc bên nhau trước trận đấu.

cầu thủ bùi tiến dũng

Trên đây chỉ là vài chia sẻ về tiểu sử Bùi Tiến Dũng. Cuộc đời anh còn nhiều điều bạn chưa thể biết. Nhưng chúng ta có niềm tin rằng anh sẽ đi xa và bay cao hơn trong nghiệp cầu thủ của mình.

Tham khảo trang Wiki về cuộc đời của Tiến Dũng

Thông tin cá nhân
Ngày sinh 28 tháng 2, 1997 (21 tuổi)
Nơi sinh Ngọc Lặc, Thanh Hóa, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Chiều cao 1,81 m
Vị trí Thủ môn
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
FLC Thanh Hóa
Số áo 20
CLB trẻ
2009- 2012 CLB Thanh Tuấn
2013-2016 Câu lạc bộ bóng đá Thanh Hóa
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2017- FLC Thanh Hóa 6 (0)
Đội tuyển quốc gia
2016-2017 U-19/ U-20 Việt Nam 14 (0)
2017- U-23 Việt Nam 6 (0)
2017- Việt Nam 0 (0)

 

 

 

Tiểu sử thủ môn tài năng Bùi Tiến Dũng
Đánh giá bài viết
Chia sẻ bài viết hay
Continue Reading

Vận Động Viên

Tiểu sử cầu thủ Nguyễn Văn Toàn

Published

on

Đội tuyển Việt Nam đang làm nên kỷ tích thần kỳ. Nổi bật trong đó có tiền đạo trẻ tuổi “Tóc vàng”. Cùng xem qua tiểu sử  Văn Toàn qua chia sẻ bên dưới nhé!

Vài nét về Văn Toàn – tiền đạo trẻ tuổi với mái tóc bạch kim

Văn Toàn sinh tại Hải Dương – Việt Nam, vào ngày 12/04/1996. Tuổi Tý, cầm tinh con chuột – Bính Tý 1996. Chàng trai tháng 04 thuộc cung Bạch Dương, một cung sao được khá nhiều người quan tâm.

Anh đứng thứ 16 trong danh sách các cầu thủ nổi tiếng của Việt Nam, và thứ 23398 trên thế giới. Dân số Việt Nam vào khoảng 73,16 triệu người vào năm 1996.

Hiện tại anh đang sống và làm việc tại Sài Gòn, tập trung cùng đội tuyển quốc gia.

cầu thủ văn toàn

Tiểu sử Văn Toàn – tuyển thủ quốc gia

Với đội tuyển quốc gia Việt Nam và câu lạc bộ Hoàng Anh Gia Lai tại V.League 1, Anh đang ở vị trí tiền đạo. Một vị trí luôn top đầu trong những trận cầu nảy lửa tại các giải quốc gia và quốc tế.

Sở hữu kỹ thuật cá nhân tốt, tốc độ, anh đang ở vai trò là “chân sút” chủ lực của U19 Việt Nam. Chưa kể khả năng xử lý bóng và dứt điểm rất thông minh, anh trở thành cầu thủ không thể thiếu trong đội hình của đội tuyển quốc gia.

Có được thành công đó không phải là dễ dàng. 1 năm trước đó anh chỉ là một cầu thủ bình thường, ít được nhắc tới.

Ai ngờ đâu chàng trai nhút nhát ngày nào giờ đã trở thành một “chú sói nhỏ” tung hoành trong vòng cấm đối phương.

Quá bất ngờ!

Anh được nhắc đến khá nhiều với danh hiệu Vua phá lưới với 6 bàn thắng khi chỉ mới 17 tuổi. Chưa hết, Công Phượng là 10 thì anh cũng 8, 9 – một đối thủ đáng gờm tại vòng loại U19 châu Á 2014.

Ở giải này, anh kịp bỏ túi 4/16 bàn thắng của U19 Việt Nam khi Công Phượng có 7 bàn.

“Dù không có thể hình lý tưởng, nhưng cậu ấy có kỹ năng săn bàn tuyệt hảo. Anh huộc mẫu tiền đạo đặc biệt, chẳng thua kém Công Phượng hay bất kỳ cầu thủ nào.”

Huấn luyện viên Graechen đã nhận định như vậy về anh.
Anh đã từng thể hiện khả năng xuất chúng của mình khi đại diện cho Việt Nam thi đấu ở các cấp độ U-19 và U-23.

Trận đấu Việt Nam gặp Trung Hoa Đài Bắc. Cũng là lần đầu ra mắt của anh trong màu áo đội tuyển quốc gia. Trận đấu diễn ra ngày 24.03.1996, khuôn khổ vòng loại World Cup 2018.

Trận này Việt Nam giành chiến thắng 4 -1 trước đối thủ. Và Văn Toàn đóng góp công sức khá lớn với hai bàn thắng trong hiệp một.

văn toàn ghi bàn

Tuổi thơ gắn liền với trái bóng

Văn Toàn từng được khán giả nhí biết đến từ năm 2007, với vai trò cầu thủ Nhi Đồng trong giải toàn quốc năm 2007. Phải nói rằng tài năng của anh từ thuở nhỏ đã được nhắc đến.

Thành tích tại giải nhi đồng khi chỉ mới 10 tuổi của anh không qua khỏi tầm ngắm của ông Nguyễn Văn Vinh.

Ông đặc cách cho cậu bé Toàn vào Học viện HAGL mà không cần qua vòng sơ tuyển. Điều mà hàng nghìn cầu thủ nhí mơ ước khi đăng ký thi tuyển.

Ở tuổi lên 10, phải xa gia đình như bao trẻ em khác ở học viện HAGL, cậu bé đã khóc rất nhiều. Nhớ gia đình, nhớ bạn bè và nhớ nhà với những điều thân thương.

Rồi những chuyến đi tập huấn, thi đấu đã ươm vào tâm hồn trẻ thơ tình yêu mãnh liệt với trái bóng. Và quên dần cảm giác nhớ nhà.

Khởi đầu bóng đá không phải là con đường như mơ đối với Văn Toàn. Tiền đạo trẻ từng bị đánh giá là chậm tiến bộ với đồng đội cùng lứa . Đến nỗi bị lưu ban xuống khóa dưới, phải tập với đàn em vào năm 2011.

Nhưng chính vấp ngã này khiến cậu nhận ra mình cần phải làm gì để thay đổi. Nghị lực và ý chí kiên cường, cậu nhanh chóng trở lại khóa một chỉ sau một thời gian.

Và anh đã trở lại lần này đã thực sự lợi hại hơn xưa. Anh trưởng thành từng ngày vượt bậc cả thời gian trước.

Các thành tích đã đạt được khi đi cùng tập thể

  • Giải vô địch bóng đá U19 Đông Nam Á : Á quân 2 năm 2013, 2014
  • Vua phá lưới Giải vô địch bóng đá U19 ĐNA 2013
  • Á quân (1): 2014 – Cúp Hassanal Bolkiah
  • Vô địch (2): 2014, 2015 – Giải bóng đá U21 Quốc tế báo Thanh niên
  • Hạng ba: 2015 – tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á

cầu thủ văn toàn và đồng đội

Thông tin bên lề về ngày sinh và năm sinh của Văn Toàn

Trong lịch sử, ngày sinh 12.04 của anh khá nhiều sự kiện nổi bật

  • Tổng thống Franklin Roosevelt qua đời ngày 12.04.1945
  • Thuốc chủng ngừa bệnh bại liệt của Tiến sĩ Jonas Salk đã được công nhận là “an toàn, hiệu quả và hiệu nghiệm ngày 12.04.1955
  • Nhà du hành vũ trụ Liên Xô Yuri A. Gagarin trở thành người đầu tiên của thể giới đi vào không gian ngày 12.04.1961. Cũng cùng thời gian này, nội chiến bắt đầu khi Fort Sumter đã bị tấn công.
  • Ngày 12.04.1862 : bên raiding do James J. Andrews dẫn đầu lấy trộm đầu máy miền Nam “Tổng”. Đây cũng là sự kiện tạo cảm hứng cho bộ phim 1926 Buster Keaton.
  • Tàu con thoi đầu tiên của Columbia đã được tiến hành bay thử nghiệm đầu tiên vào ngày này năm 1981.
  • 12.04.1983 Harold Washington đắc cử Thị trưởng người Mỹ gốc Phi đầu tiên tại Chicago.
  • Ngày này năm 1999 : thẩm phán liên bang Susan Webber Wright – Arkansas nhìn ổng thống Clinton trong sự khinh thường của tòa án. Clinton đã nói dối về mối quan hệ của ông với Monica Lewinsky.

Năm 1996 cũng xảy ra không ít sự kiện

  • Chechnya bắt 2.000 người Nga và hiệp ước hòa bình được ký kết.
  • Bối cảnh: giải trừ vũ khí hạt nhân khiến Pháp đồng ý kết thúc thử nghiệm hạt nhân
  • Bùng phát bệnh “bò điên” báo động ở nước Anh.
  • Nam Phi thông qua Hiến Pháp mới.
  • Croatia cam kết 1,23 tỷ $ trong viện trợ để xây dựng lại Bosnia khi Tòa án quốc tế tính tội ác chiến tranh của nước này đối với người Hồi giáo Bosnia.
  • Benjamin Netanyahu được bầu làm thủ tướng Israel.
  • Iraq tấn công vùng đất của người Kurd. Tiếp theo là Mỹ tấn công hệ thống phòng không phía Nam Iraq sau lời cảnh báo.
  • Cũng trong năm này, lãnh đạo Taliban đã chiến đấu giành thủ đô Kabul của Afghanistan.
  • Bạo lực sắc tộc tại các trại tị nạn Zairian.
  • tổng thống Clinton phê duyệt kế hoạch cứu trợ của LHQ cho 1,2 triệu người tị nạn Hutu đói tại miền đông Zaire.
  • Hàng trăm ngàn người trở về Rwanda cũng trong năm nay.

Tiểu sử văn toàn không còn là mới so với nhiều bạn trẻ mê bóng đá. Tuổi thơ người nổi tiếng cũng giống như người bình thường. Nhưng để được như ngày hôm nay phải là một sự phấn đấu không ngừng nghỉ.

Tiểu sử cầu thủ Nguyễn Văn Toàn
Đánh giá bài viết
Chia sẻ bài viết hay
Continue Reading

Vận Động Viên

Tiểu sử Park Hang Seo – HLV trưởng đội tuyển Việt Nam

Published

on

Lần đầu làm HLV trưởng ĐT Việt Nam. Nhưng ông đã cho thế giới thấy một việt nam hoàn toàn khác. Cùng xem qua tiểu sử  Park Hang Seo nhé.

Tiểu sử Park Hang Seo

  • Tên tiếng Hàn : 박항서
  • Ông sinh ra tại huyện Sancheong, tỉnh Gyeongsang Nam, Hàn Quốc.
  • Chào đời ngày 04.01.1959

Là một HVL bóng đá người Hàn Quốc. Ngày 11.10.2107, ông chính thức ra mắt vai trò huấn luyện viên trưởng của đội tuyển bóng đá nam U23 Việt Nam.

Quan điểm của ông trong sự nghiệp huấn luyện của mình:

  • Chọn lối đá chơi bóng ngắn.
  • Các cầu thủ phối hợp với nhau bằng những đường chuyển nhỏ đến tận cầu môn đối phương.

Thế nhưng, với quan điểm này, ông lại không thành công ở Hàn Quốc. Giới chuyên môn bóng đá ở Hàn Quốc đã phân tích và chê bai ông về sự đơn điệu trong chiến thuật. Cũng chính vì thế, họ đặt cho ông biệt danh Sleeping One – ngài ngủ gật trên băng ghế chỉ đạo trận đấu.

park hang seo cùng đồng nghiệp

Cuộc đời thăng trầm trong vai trò huấn luyện của Park Hang Seo

Từ nhỏ, ông đã bộc lộ được khả năng chơi bóng sớm. Và tài năng ấy đã được thể hiện tuyệt đỉnh khi ông tốt nghiệp đại học.

Park cũng là một nhân vật học hành xuất chúng. Ông đã từng học tại Đại học Hangyang – một trường Đại học nổi tiếng ở Hàn Quốc. Trường này từng lọt vào top 400 trường Đại học danh giá nhất thế giới.

Tại đây, ông theo học ngành chuyên nghiên cứu về thảo dược. Thành tích cũng không phải vừa. Thế nhưng, niềm đam mê trái bóng hướng ông theo một con đường hoàn toàn khác chuyên môn được đào tạo.

Ông quyết định từ bỏ con đường nghiên cứu thảo dược, và bắt đầy bằng một vai trò mới trong sự nghiệp bóng đá. Vai trò hoàn toàn khác chuyên môn được đào tạo.

Park Hang Seo từng là trợ lý của HLV Guus Hiddink tại World Cup 2002. Thời điểm này, Hàn Quốc đã đứng thứ tư thế giới. Bóng đã xứ kim chi đã gây tiếng vang lớn khắp thế giới, tạo nên một vị thế mới trong lòng người hâm mộ.

Tại Asiad 2002, trong vai trò là huấn luyện viên đội tuyển U23 Hàn Quốc. Ông và các học trò đã xuất sắc dành huy chương đồng của giải.

Việt Nam cũng đã cùng ông gây nên chấn động của châu lục suốt thời gian vừa qua. Báo giới đã đặt cho ông cái tên rất thân thương “Guus Hiddink của Việt Nam”.

Trong vai trò cầu thủ, ông từng ghi nhiều dấu ấn tại K.League 1985. Trong mùa giải này, ông đã đóng góp vào chiến thắng của Lucky-Goldstar Hwangso những pha chuyền bóng ấn tượng.

Ông kết thúc mùa giải với 3 đường kiến tạo cho đồng đội ghi bàn và 4 bàn thánh. Thành tích này giúp ông ghi tên mình vào danh sách đội hình tiêu biểu của K.League 1985.

Park gây ấn tưởng bởi lối chơi bản lĩnh, sử dụng chiến thuật hợp lý và thông minh.

Dù …

Thể hình ông khá khiêm tốn, vóc dáng cũng không mấy cao lớn so với các cầu thủ khác. Những đường chuyền của ông cho các đồng đội chỉ ở cự ly ngắn như khá nhanh và chính xác.

Ông bắt đầu sự nghiệp huấn luyện năm 1996 với đội bóng LG Cheetahs. Thế nhưng, dấu ấn lớn nhất vẫn là World Cup 2002.

Ngoài ra, ông huấn luyện thêm các đội tuyển khác Jeonam Dragons, Changwon City FC, Sangju Sangmu và Gyeongnam FC.

hlv park hang seo hát quốc ca việt nam

Hành trình đến với đội tuyển Việt Nam

Ông cùng đội Changwon City gành vị trí thứ 6/8 tại mùa giải Nationa League – hạng ba Hàn Quốc trước khi sang Việt Nam. Công việc mới với đội tuyển Việt Nam, ông cho biết sẽ dồn toàn bộ tâm sức cho đội tuyển.

Khi ông đến Việt Nam, không phải ai cũng thây được niềm tin và lạc quan ở ông. Bởi vì người hâm mộ muốn thấy những gì ông làm. Từ trước đến nay, họ luôn kỳ vọng vào các huấn luyện viên ngoại, rồi nội.

Thế nhưng, chưa ai có thể tạo được sức bật lớn cho đội tuyển, để chúng ta có được vị thế tầm cỡ ở châu lục. Huống gì đặt niềm tin ở vị trí được thế giới nhìn nhận. Và đương nhiên, tâm lý hoài nghi của giới chuyên môn và người hâm mộ về ông Park là chuyện rất ư bình thường.

Liên đoàn bóng đá Việt Nam đã chủ trương họp mời huấn luyện viên ngoại dẫn dắt đội tuyển Việt Nam. Sau khi huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng từ chức chưa lâu.

Và họ đã có danh sách  15 ứng viên với bản lý lịch rất tốt. Nhưng vấn đề tiền lương khiến cuộc đàm phán của VFF với họ bất thành.

Ông xếp thứ 2 theo thứ tự ưu tiên của danh sách ứng viên. Sau ứng viên số một Sekizuka Takashi của Nhật Bản và trước một huấn luyện khác đến từ Châu Âu. Theo danh sách này, huấn luyện viên Takashi Sekizuka – người từng đưa đội tuyển U-23 Nhật Bản giành vị trí thứ 4 tại Olympic London 2012 được thương thảo đầu tiên.

Huấn luyện viên này được các CLB hàng đầu Nhật Bản đánh giá cao về chuyên môn. Chưa nói đến là từng làm trợ lý cho huấn luyện viên trưởng đội tuyển Nhật Bản.

Và sau khi chia tay câu lạc bộ Chiba – Nhật Bản, ông đang không dẫn dắt CLB nào. Còn Park lại đang dẫn dắt CLB Changwon City thi đấu ở Giải hạng 3 Hàn Quốc 2017, chưa phải là người tự do.

Và đương nhiên, Takashi Sekizuka phải yêu cầu chế độ đãi ngộ khá cao. Mức lương và những đòi hỏi khá gắt gao về điều kiện sân bãi cho đội tuyển tập luyện. Và VFF vẫn quyết định sang Nhật Bản để thương thảo cụ thể với Takashi .

Phó chủ tịch thường trực VFF Trần Quốc Tuấn đích thân sang tận Nhật Bản để thương thảo cùng ông. Takashi xin phép 10 ngày suy nghĩ và sẽ trả lời sau.

Nhưng tiếc là sau đó, ông đã ế nhị gửi mail xin lỗi VFF. Vì nhiều lý do, ông không đến với đội tuyển Việt Nam được.

VFF phải chuyển qua phương án 2 là ông park để trao đổi tiếp về vị trí huấn luyện viên đội tuyển Việt Nam. Người đại diện của ông Park là Lee Dong Jun đã đưa ra yêu cầu muốn VFF sang Hàn Quốc bàn bạc cụ thể.

Phó chủ tịch thường trực VFF Trần Quốc Tuấn, phó chủ tịch phụ trách tài chính là Đoàn Nguyên Đức, tổng thư ký Lê Hoài Anh đã có mặt trong cuộc thương thảo này.

Bên phí Park có vợ chồng ông cùng người đại diện Lee Dong Jun. Cuộc thương thảo đã diễn ra tại Seoul, Bảo tàng Bóng đá Hàn Quốc thuộc Sân vận động FIFA World Cup 2002.

Kết quả là …

Cuộc thương thảo thành công, ông Park ký hợp đồng không lâu sau đó. Chính thức trở thành huấn luyện viên trưởng của Đội tuyển bóng đá Việt Nam. Thời gian thương thảo hết sức kỷ lục chỉ trong vòng 1 ngày.

Trang Twitter tin tức bóng đá Hàn Quốc loan tin nhanh về việc  “Cựu HLV trưởng CLB Gyeongnam và Jeonnam Park Hang Seo sẽ là tân HLV trưởng đội tuyển VN”. Chỉ sau khi cuộc đàm phán kết thúc vài phút. Khiến dư luận hết sức bùng nổ.

Do thông tin này khi mọi thứ chỉ mới đạt được 90% nên VFF chỉ viết thông cáo báo chí ngắn công bố ngay trên trang web chính thức. VFF chưa muốn chính thức thông báo vì muốn chắc chắn hơn về mặt thông tin.

Lê Hoài Anh -Tổng thư ký VFF tiết lộ : Ông Park chỉ nhận mức lương vừa phải. Thậm chí, ông Park còn ở nhà công vụ ngay tại trụ sở VFF. Chứ không yêu cầu nhà riêng, khác hẳn với nhiều huấn luyện viên ngoại tiền nhiệm trước đó.

Bên cạnh đó, mức lương của Park cũng được phía Liên đoàn bóng đá Hàn Quốc chi trả một phần. Nó cũng không quá cao so với khả năng chi trả của Việt Nam.

Park Hang-seo
Thông tin cá nhân về ông
Tên tiếng anh đầy đủ Park Hang-seo
Sinh nhật 04.01.1959 (59 tuổi)
Nơi sinh Sancheong, Gyeongsang Nam, Hàn Quốc
Chiều cao 1,70 m (5 ft 7 in)
Vị trí chủ lực Tiền vệ
Câu lạc bộ tham gia khi còn trẻ
Đại học Hanyang
Câu lạc bộ chuyên nghiệp*
Năm tham gia Đội bóng ST (BT)
1981 Korea First Bank FC – bán chuyên nghiệp
1981–1983 Army FC  – đội bóng nghĩa vụ quân sự)
1984–1988 FC Seoul 99 (15)
Khoác áo đội tuyển quốc gia
1978 U-23 Hàn Quốc
1979–1980 Hàn Quốc – đội B
1981 Hàn Quốc
Các câu lạc bộ huấn luyện
2002 Đội U-23 – tuyển Hàn Quốc
2005–2007 Câu lạc bộ Gyeongnam FC
2008–2010 Câu lạc bộ Jeonnam Dragons
2012–2015 Câu lạc bộ Sangju Sangmu
2017 Câu lạc bộ Changwon FC
2017– Đến Việt Nam – Đội tuyển U23 Việt Nam

Tiểu sử Park Hang Seo không quá nhiều nổi bật. Nhưng chính cách huấn luyện của ông đối với đội tuyển là điều khiến nhiều người suy nghĩ.

Một huấn luyện viên hết sức bình dị và hiểu học trò mới có một khả năng lãnh đạo tốt như vậy.

Hy vọng ông Park Hang Seo sẽ cùng Việt Nam viết thêm nhiều thành công nữa trong tương lai không xa.

Tiểu sử Park Hang Seo – HLV trưởng đội tuyển Việt Nam
Đánh giá bài viết
Chia sẻ bài viết hay
Continue Reading

Trending

Tạp chí Fans VN - Cộng đồng giải trí, công nghệ, thể thao lớn nhất Việt Nam 

Địa chỉ: 158/D25 Phan Anh, Phường Tân Thới Hòa, Quận Tân Phú, TPHCM 

Email: tapchifansvn@gmail.com

Website: https://fans.com.vn

Số Điện Thoại: 091 60 555 99

Copyright © 2017 Tạp Chí Fans VN. Theme by MVP Themes, powered by WordPress.